dieu-duong-tai-nha-ha-noi
pkgdvietuc.com-chao-mung-ngay-gia-dinh-viet-nam
cham-soc-nguoi-cao-tuoi-tai-nha

TẠI SAO NHIỀU PHỤ NỮ KHÔNG TỰ NHẬN THỨC ĐƯỢC NGUY CƠ UNG THƯ BUỒNG TRỨNG

[Ngày 7 tháng 10 năm 2015]

Tác giả: David McNamee

Nhân tháng Chiến Dịch Tăng Cường Nhận Thức Ung Thư Buồng Trứng, bên cạnh những yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức về các căn bệnh nói chung, chúng ta hãy cùng xem xét về bệnh ung thư buồng trứng – việc điều trị, xét nghiệm và các nghiên cứu.

Các số liệu thống kê về ung thư buồng trứng thực sự rất đáng sợ. Khi mà các xét nghiệm phát hiện sớm bệnh ung thư buồng trứng đã tương đối phổ biến thì 75-85% phụ nữ mắc bệnh này đều được chẩn đoán muộn khi ung thư đã lan rộng với tiên lượng xấu.

Có đến hơn 21.000 phụ nữ bị ung thư buồng trứng mỗi năm trong đó có 14.000 người tử vong. Tỉ lệ được chẩn đoán mắc bệnh này ở mỗi phụ nữ là 1/70 trong suốt cuộc đời.

Vì chưa có phương pháp hiệu quả để phát hiện sớm bệnh ung thư buồng trứng, các bác sỹ sẽ tập trung vào xác định những phụ nữ có nguy cơ mắc bệnh và tìm kiếm các phương pháp phòng ngừa hiệu quả .

Bác Sỹ Robyn Andersen, chuyên gia sàng lọc và xác định các triệu chứng ung thư buồng trứng tại Trung Tâm Nghiên Cứu Ung Thư Fred Hutchinson thuộc Seattle đã trả lời báo Medical News Today: “Chúng ta thể làm gì để cải thiện việc phát hiện sớm bệnh ung thư buồng trứng – điều này thực sự vẫn chưa rõ ràng”. Ông còn cho biết thêm:

“Các nhà nghiên cứu vẫn đang tiến hành các thí nghiệm, tuy nhiên ở thời điểm hiện tại không có quy trình hay phương pháp kiểm tra đơn giản nào cho tất cả phụ nữ. Chúng tôi chưa biết phương pháp nào thực sự tốt, tuy nhiên chúng tôi tin rằng có một vài cách có thể hỗ trợ những phụ nữ trong gia đình có nguy cơ mắc bệnh cao- đây là một phần lý do để chắc chắn những phụ nữ có nguy cơ mắc bệnh cao hiểu rằng ung thư buồng trứng là một vấn đề luôn có thể xảy ra.”

Bác sỹ Andersen đăc biệt quan tâm đến việc nâng cao nhận thức ở những phụ nữ có yếu tố di truyền gây nguy cơ ung thư buồng trứng.

Hầu hết phụ nữ chưa tự nhận thức được sự gia tăng nguy cơ ung thư buồng trứng

Trong nghiên cứu được công bố trên tạp chí Behavioral Medicine năm 2014, Bác Sỹ Andersen và đồng nghiệp tại Trung Tâm Fred Hutchinson nhận thấy rằng 75% phụ nữ có nguy cơ cao về đột biến gen BRCA không nhận thức được rằng điều này làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư buồng trứng.

Đáng chú ý hơn, BRCA1 và BRCA2 còn làm tăng nguy cơ ung thư vú.

Thông tin nhanh về ung thư buồng trứng

  • Ung thư buồng trứng phổ biến ở phụ nữ trong độ tuổi từ 63 trở lên
  • Ung thư buồng trứng là nguyên nhân tử vong đứng thứ 5 ở phụ nữ Mỹ
  • Phụ nữ Châu Phi có nguy cơ bị ung thư buồng trứng cao hơn nhiều so với phụ nữ da trắng ở Mỹ.

Tìm hiểu thêm về bệnh ung thư buồng trứng

Khảo sát 1900 phụ nữ vùng Seatle trong độ tuổi 35-80 và gia đình có tiền sử đột biến gen BRCA cho thấy chỉ có khoảng 22% phụ nữ có nguy cơ cao và 7,4% phụ nữ có nguy cơ trung bình nhận thức nguy cơ ung thư buồng trứng của họ đang gia tăng.

Những người được nghiên cứu sống ở vùng có trình độ giáo dục và nhận thức về sức khỏe cao, cũng như có khả năng tiếp cận tốt về tư vấn và thí nghiệm di truyền. Chính vì vậy Bác sỹ Andersen đã đưa ra giải thuyết rằng nhận thức ở những phụ nữ sống trong vùng có giáo dục yếu và ít nguồn lức hơn có thể kém hơn rất nhiều.

Chính vì vậy, câu hỏi đặt ra là tại sao phần lớn nhóm có nguy cơ cao lại không nhận thức được việc họ có thể bị ung thư buồng trứng, căn bệnh được Bác Sỹ Andersen mô tả “ngày càng đáng sợ hơn theo nhiều cách”?

Bác sỹ cũng đề xuất vấn đề này trở thành một vấn đề truyền thông.

Bà phát biểu: “Người ta thường ít khi viết về đột biến BRCA như là nguyên nhân gây ung thư vú và ung thư buồng trứng, thậm chí khi một bài báo có nhắc đến bệnh ung thư buồng trứng thì tiêu đề lại liên quan đến ung thư vú”

Tuy nhiên, ung thư vú thường phổ biến hơn – trong số 8 phụ nữ Mỹ thì có 1 phụ nữ bị ung thư vú trong suốt cuộc đời.

Hơn nữa, nếu như đột biến gen BRCA1 làm tăng nguy cơ ung thư tử cung lên đến 50% thì nguy cơ ung thư vú tăng cao hơn lên đến 87%.

“Ngay cả trong những gia đình có thành viên bị bệnh ung thư có liên quan đến đột biến gen BRCA1 hoặc BRCA2, hầu hết hoặc gần như tất cả các loại ung thư đều là ung thư vú. Tất nhiên người ta sẽ chú ý đến căn bệnh này hơn.

Mối liên hệ ‘theo cảm tính’ giữa ung thư vú và ung thư buồng trứng

Có thể không trực quan khi những phụ nữ có thành viên trong gia đình mắc bệnh ung thư vú cho rằng họ cũng có nguy cơ mắc bệnh ung thư buồng trứng cao. Mối liên hệ giữa ung thư vú và ung thư buồng trứng nên được chỉ rõ. Hơn nữa, cũng không quá nhạc nhiên khi bệnh nhân không nghĩ đến mối quan hệ giữa ung thư vú và ung thư buồng trứng nếu bác sỹ không đề cập đến điều này.

Andersen nhấn mạnh: “Tôi thực sự cho rằng đây là vấn đề giữa các bác sỹ, những bên liên quan (bác sỹ phụ khoa, nội khoa, hay bất kỳ tổ chức chăm sóc sức khỏe lớn nào) và hệ thống chăm sóc y tế”

Chúng ta cũng có thể tuyên truyền cho công chúng rằng đột biến gen BRCA mang lại mối đe dọa đối với cả hai loại ung thư, tuy điều này chỉ chiếm tỉ lệ nhỏ. Việc tìm hiểu về tiền sử gia đình nên được thực hiện thường xuyên, ít nhất trong những đợt khám sức khỏe. Các bác sỹ nên đưa ra những lời khuyên về nguy cơ ung thư dựa trên những hiểu biết về tiền sử gia đình của bệnh nhân, cũng như việc đưa ra những chỉ dẫn trước những triệu chứng hay chỉ số huyết áp của họ.

Andersen cho rằng các bác sỹ nên có thói quen giới thiệu bệnh nhân với các nhà tư vấn về di truyền học nếu họ có người thân bị ung thư vú hoặc buồng trứng.

Tuy nhiên, theo nghiên cứu của bà trong giai đoạn 2006-2008, chỉ có 15% phụ nữa có nguy cơ mắc bệnh cao nhận được những tư vấn liên quan đến di truyền về nguy cơ ung thư.

Đã phát hiện ra chất đánh dấu sinh học của bệnh ung thư buồng trứng

Tìm ra các chất đánh dấu sinh học là một phương pháp giúp phát hiện sớm bệnh ung thư buồng trứng. Năm trước, viện y tế sinh học A*STAR tại Singapre đã xác định được một chất đánh dấu sinh học mới của các tế bào ung thư buồng trứng.

Phân tử này được gọi tên là Lgr5, nằm trong tập hợp con các tế bào trên bề mặt tế bào biểu mô của buồng trứng. Trước đây, người ta sử dụng Lgr5 để xác định các tế bào gốc trong ruột và dạ dày, và đây là lần đầu tiên nó được phát hiện trong buồng trứng.

Các tế bào biểu mô sản sinh ra Lgr5 cũng kiểm soát sự phát triển của buồng trứng. Việc tách rời chất đánh dấu sinh học này có thể giúp chẩn đoán sớm bệnh ung thư buồng trứng.

Thêm vào đó, các nhà nghiên cứu tại viện A*STAR cũng đã tiến hành phân tích sinh học về dữ liệu di truyền học của bệnh ung thư. Họ đã tìm thấy một loại gen và tin rằng đây là một tiên lượng hiệu quả cho khả năng sống của bệnh nhân.

Loại gen này được gọi tên là Checkpoint Kinase2, có liên quan đến việc phản ứng kém với các phương pháp điều trị ung thư hiện hành. Các nhà nghiên cứu hi vọng việc nhận dạng ra loại gen này sẽ thúc đẩy sự phát triển của y khoa cá thể cho các bệnh nhân ung thư buồng trứng.

HIPEC – phương pháp điều trị mới trong giai đoạn thử nghiệm thứ 2

Hóa trị liệu trong phúc mạc nóng (HIPEC) là hương pháp điều trị mới mang lại các kết quả khả quan trong những thử nghiệm đầu tiên.

HIPEC là một phương pháp mới mẻ dựa trên hóa trị liệu, trong đó thay vì lưu thông khắp cơ thể, hóa chất trị liệu sẽ  trực tiếp đi đến các tế bào ung thư ở vùng bụng.

Để thực hiện điều này, hóa chất trị liệu được làm nóng đến nhiệt độ 41-42 độ C lưu thông khắp vùng bụng trong suốt 1.5 giờ trước khi được rút ra khỏi cơ thể.

Giải pháp này được thực hiện sau khi phẫu thuật loại bỏ khối u với mục đích tiêu diệt bất các tế bào ung thư còn lại chưa được phát hiện có khả năng hình thành một khối u mới. Khả năng hấp thu vào các tế bào ung thư của các hóa chất trị liệu sẽ được cải thiện khi làm nóng lên.

Đối với phương pháp HIPEC, bởi vì hóa trị liệu hướng đến vùng chứa các tế bào ung thư mà không gây ảnh hưởng đến các bộ phận còn lại của cơ thể cho nên các bác sỹ có thể đưa vào cơ thể liều cao hơn bình thường mà không làm tăng các tác dụng không mong muốn.

(Theo Medical News Today – Dịch bởi PHÒNG KHÁM GIA ĐÌNH VIỆT ÚC)