slide web-01
Print
dieu-duong-tai-nha-ha-noi
cham-soc-nguoi-cao-tuoi-tai-nha

CHIẾN THẮNG UNG THƯ NHỜ CHẾ ĐỘ DINH DƯỠNG – PHẦN 2

[Ngày 30 tháng 9 năm 2015]

Tác giả: Giáo sư – Nhà khoa học Patrick Quillin

benh nhan ung thu song lau hon khi biet tinh trang benh

Trong những nghiên cứu ban đầu, các kỹ thuật như phẫu thuật, xạ trị hay hóa trị có vẻ như là phương pháp tốt nhất để chữa trị ung thư. Mục đích là cắt bỏ, đốt và phá vỡ các tế bào bất thường. Trong khi các phương pháp này có thể tạm thời giảm bớt độ lớn của khối u thì thực sự chúng không chữa được bệnh. Chỉ bằng cách thay đổi những nguyên nhân tiềm ẩn dẫn tới căn bệnh ung thư bệnh nhân mới có thể hi vọng hồi phục sức khỏe.

Các bác sỹ hiểu rằng loại trừ ung thư bắt đầu từ việc thay đổi các điều kiện làm tăng trưởng khối u chứ không chỉ là áp dụng các trị liệu gây độc tế bào để tiêu diệt tế bào ung thư. Đây là một ví dụ tương tự: Nấm mọc trên vỏ cây nhờ có những điều kiện thuận lợi về nhiệt độ, độ ẩm và bóng tối. Bạn có thể cắt bỏ, đốt hay làm độc nấm nếu muốn. Thế nhưng một khi các điều kiện thuận lợi này vẫn tồn tại, nấm sẽ tiếp tục nảy nở. Tương tự như vậy, bệnh ung thư phát triển trong cơ thể người khi gặp các điều kiện phù hợp. Các yếu tố được dẫn chứng bằng tài liệu rằng cơ sở của việc hình thành khối u bao gồm chất độc, suy giảm miễn dịch, suy dinh dưỡng, suy nhược thần kinh và lượng đường trong máu cao. Các yếu tố nguyên nhân khác bao gồm việc giảm pH, dysbiosis (vi khuẩn bất thường trong ruột), suy giảm hoạt động của tuyến giáp, không đủ DHEA, enzyme và axit hydrochloric; các ký sinh trùng. Trừ khi các chất cảm ứng ung thư này được hiệu chỉnh, còn không phương pháp điều trị gây độc tế bào vẫn sẽ bị thất bại.

Cách tốt nhất để khắc phục vấn đề là điều trị bằng chế độ dinh dưỡng. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng: mặc dù chế độ dinh dưỡng là một phần không thể thiếu trong chương trình điều trị của mỗi bệnh nhân ung thư, nhưng một mình liệu pháp dinh dưỡng không thể đủ cho hầu hết các bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối.

Có rất nhiều lý do để áp dụng dinh dưỡng trị liệu trong điều trị ung thư, trong đó bao gồm:

Thiếu hụt dinh dưỡng: Việc thiếu hụt chất dinh dưỡng cho cơ thể có thể gây ra các hậu quả lớn, thậm chí nguy hiểm. Trên thực tế, có hơn 40% các bệnh nhân ung thư chết vì thiếu hụt dinh dưỡng chứ không phải vì bệnh ung thư.  Ung thư gây ra những bất thường trong quá trình chuyển hóa, giống như chiếc xe của bạn đang bị mắc kẹt trong đống băng vậy – bánh xe vẫn quay, động cơ vẫn tiêu thụ gas, nhưng xe lại không di chuyển tí nào. Tuy nhiên, bệnh nhân ung thư cũng thường ăn ít hơn trước khi bị bệnh. Một lý do nữa là các khối u gây ra trạng thái tăng chuyển hóa và tiết ra một chất được gọi là cachectin làm giảm cảm giác thèm ăn. Liệu pháp hóa trị và xạ trị có thể gây ra chứng biếng ăn và các triệu chứng căng thẳng sinh học gây suy dinh dưỡng. Các bệnh nhân ung thư cần nhiều Calo hơn người khỏe mạnh, tuy nhiên họ vẫn bị ốm yếu đi, điều này được gọi là hội chứng suy mòn. Việc giảm cân làm tăng các tỷ lệ tử vong đối với hầu hết các loại ung thư, trong khi nó cũng làm giảm các phản ứng tích cực của phương pháp hóa liệu.

Ngoài việc ăn uống hợp lý, thức ăn giàu dinh dưỡng, công thức dinh dưỡng đóng hộp, protein, muối hydrazine sulfate, enzim, giải trình tự DNA và các phương pháp khác có thể đảo ngược việc giảm cân của rất nhiều bệnh nhân ung thư. Nếu như các bệnh nhân ung thư giảm 10% hoặc hơn trọng lương cơ thể sau khi được chẩn đoán ung thư, các chiến lược dinh dưỡng khác là không liên quan cho đến khi vấn đề này được giải quyết. Cảnh báo: Đừng lấp đầy dạ dày đang yếu bằng các loại vitamin khi các loại thức ăn giàu dinh dưỡng là quan trọng hơn.

Dinh dưỡng tối ưu:   Ăn đầy đủ các chất dinh dưỡng có thể nâng cao hiệu quả của các liệu pháp y học. Một số người lo ngại rằng các chất chống oxi hóa như Vitamin C, E và beta-carotene có thể vô hiệu hóa khả năng tiêu diệt khối u của liệu pháp hóa trị và xạ trị. Điều này là không đúng. Trong các nghiên cứu trên động vật lẫn con người, các chất chống oxi hóa làm tăng khả năng tiêu diệt ung thư của liệu pháp hóa trị và xạ trị đồng thời bảo vệ các mô chủ khỏi sự tổn thương.

Trong thực tế, các chất chống oxi hóa có rất nhiều lợi ích đối với liệu pháp hóa trị và xạ trị. Trong khi cả hai phương pháp này đều giảm độ lớn của khối u, chúng cũng gây ảnh hưởng đến các mô thông thường như tim, thận, niêm mạc ruột và tủy xương (nền tảng của hệ thống miễn dịch). May mắn là các vitamin có thể hỗ trợ cho các mô riêng lẻ. Chẳng hạn, các nghiên cứu trên động vật chỉ ra rằng vitamin E bảo vệ tim chống lại các tác hại của hóa trị bằng Adriamycin đồng thời cho phép các loại thuốc chống ung thư tiếp tục phát huy tác dụng. Vitamin E cũng có hoạt tính chống ung thư độc đáo và chưa giải thích được. Ở những chú chuột bị ung thư gan, vitamin C và K giúp tăng cường việc tiêu diệt khối u đồng thời giảm tổn thương các cơ quan từ sáu loại thuốc hóa trị liệu khác nhau. Vitamin A (isotretinoin) làm tăng khả năng tiêu diệt ung thư của các loại thuốc hóa trị vincristine và daunorubicin ở 24 bệnh nhân bị bệnh bạch cầu lymphoblastic cấp tính. Ở các nghiên cứu trên động vật, tiêm vitamin C trước khi xạ trị có thể giúp bệnh nhân chịu đựng được quá trình điều trị.

Các nghiên cứu sơ bộ trên con người cũng cho thấy những hứa hẹn của liệu pháp bổ sung vitamin. Các bác sỹ ung bướu ở Phần Lan đã sử dụng các chất dinh dưỡng với liều cao (để bổ sung lượng thiếu hụt được đo bằng các xét nghiệm máu) cùng hóa trị và xạ trị cho các bệnh nhân ung thư phổi. Thông thường, ung thư phổi có tiên lượng rất xấu với cơ hội sống sót không đến 1% sau 30 tháng điều trị bằng y khoa thông thường. Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, 8 trong số 18 bệnh nhân (chiếm 44%) được bổ sung dinh dưỡng vẫn sống  thêm 72 tháng sau  khi áp dụng các liệu pháp hóa xạ trị. Các chuyên gia ung thư kết luận rằng các bệnh nhân bắt đầu điều trị bằng các chất chống ô xi hóa sớm nhất hầu như có thể sống lâu hơn hay có sự thuyên giảm bệnh.

Các chức năng miễn dịch mở rộng: Hệ thống miễn dịch là một tổ hợp phức tạp bao gồm 20 nghìn tỉ tế bào đa dạng hỗ trợ cơ thể tìm kiếm các tác nhân xâm nhập như vi khuẩn, vi rút, các tế bào ung thư. Khi bác sỹ thông báo rằng, “Chúng tôi nghĩ chúng tôi đã làm tất cả” có nghĩa là “Có ít hơn một tỉ tế bào ung thư trong cơ thể bạn không thể được phát hiện bằng các thiết bị chẩn đoán hiện nay. Giờ chúng ta phải dựa vào hệ thống miễn dịch còn nguyên vẹn để tìm ra và tiêu diệt các tế bào ung thư còn lại.” May mắn thay, có rất nhiều các chất dinh dưỡng ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng các yếu tố miễn dịch vốn có thể chống lại ung thư.

Bỏ đói tế bào ung thư chọn lọc:   Trong khi các chất dinh dưỡng thiết yếu hỗ trợ các biểu mô khỏe mạnh cho bệnh nhân, các loại thức ăn nhanh có thể nuôi dưỡng tế bào ung thư. Chẳng hạn, đường làm phát triển bệnh ung thư và ức chế hệ thống miễn dịch của bệnh nhân. Phần lớn các khối u được gọi là “chất chuyển hóa glucozơ cưỡng chế”, có nghĩa là chúng phải được nuôi dưỡng bằng đường. Người Mỹ tiêu thụ khoảng 20%  calo từ đường tinh chế, nhưng không chịu nổi lượng như vậy do căng thẳng, béo phì, lối sống ít vận động và  ít lượng chất xơ đưa vào cơ thể thấp. Một nghiên cứu dịch tễ học các bệnh nhân ung thư tại 21 quốc gia cho thấy rằng tiêu thụ lượng đường lớn là một yếu tố nguy cơ đối với bệnh ung thư vú. Trong khi động vật được bổ sung chế độ ăn tương đương lượng calo từ cácbon thì các khối ung thư vú phát triển đáng kể ở nhóm sử dụng đường đơn giản nhiều hơn là nhóm tiêu thụ các loại cacbonhydrat phức tạp (tinh bột).

Có thể đẩy lùi sự gia tăng lượng đường trong máu ở bệnh nhân ung thư bằng cách ăn các loại thực phẩm có chỉ số đường huyết thấp (nghĩa là đường từ từ được hấp thụ vào máu). Các thực phẩm có chỉ số đường huyết từ tốt nhất đến xấu nhất lần lượt là thịt, các loại hạt, dầu, rau, đậu, fructozo, ngũ cốc, tinh bột tinh chế (ví dụ bột mì trắng), trái cây và đường tinh luyện. Tốt nhất bệnh nhân ung thư nên tránh các loại đường trắng và thực phẩm ngọt nói chung và không bao giờ được ăn riêng thứ gì ngọt. Chẳng hạn, bệnh nhân có thể chỉ ăn một chút hoa quả sau bữa ăn có đầy đủ protein, cacbonhydrat phức hợp, chất xơ và chất béo.

(Sưu tầm và Dịch bởi PHÒNG KHÁM GIA ĐÌNH VIỆT ÚC – Theo Nutrition Science News)

Xem PHẦN 1 tại đây

Xem PHẦN 3 tại đây